PHỤNG VỤ - MỤC VỤ | Hỏi Đáp
Lịch Sử Chuổi Mân Côi (Lm FX Nguyễn Văn Tuyết)
Thánh Năm Thánh Hoa Kính Đức Mẹ. Trong tháng này Đức Thánh Cha Phanxicô mời gọi toàn thể giáo hội lần hạt Mân côi cầu nguyện cho đại dịch vũ hán sớm chấm dứt. Thế nhưng đâu là lịch sử của Chuổi Mân Côi?

Theo truyền thống, chuổi Mân Côi bắt đầu vào cuộc hiện ra của Đức Mẹ với thánh Đa Minh vào khoảng năm 1221. Lúc đó thánh Đa minh đang chiến đấu chống lại lạc giáo gọi là Albigensianism ở Pháp, Đức Mẹ hiện ra và trao cho ngài tràng hạt Mân côi. Mẹ bảo ngài hãy dạy giáo dân lòng sùng kính này và hứa rằng những nổ lực tông đồ của ngài sẽ được chúc phúc với nhiều thành công nếu ngài làm điều này. Thánh Đa Minh và các tu sĩ của ngài đã thi hành điều này, như vậy, dòng Đa minh có một vai trò quan trọng trong việc cổ võ việc lần hạt mân côi trên toàn thế giới ngay từ những ngày đầu của việc sùng kính này.

Vào thời trung cổ, một ước muốn để giáo dân có một hình thức cầu nguyện giống như các tu sĩ trong các tu viện. Trong tu viện các tu sĩ cầu nguyện bằng Thánh vịnh, họ đọc 150 Thánh vịnh lấy từ Kinh Thánh. Tuy nhiên vào lúc đó, hầu hết giáo dân không có khả năng để mua sách này và hầu hết họ không biết chữ. Cho nên song song với việc đọc 150 Thánh vịnh như các tu sĩ, một thực hành mới để giáo dân đọc Kinh Lạy Cha đã được phát triển. Giáo dân đọc 150 Kinh Lạy Cha suốt ngày, và họ được phát cho những hạt nhỏ giúp để họ đếm trong khi cầu nguyện.

Tiếp theo đó, việc sùng kính Đức Mẹ cũng được phát triển trong cùng một cách. Lời của Sứ Thần Gabriel: “Kính mừng Maria, đầy ơn phúc, Đức Chúa Trời ở cùng Bà” thỉnh thoảng được đọc trong các tu viện vào mỗi cuối Thánh vịnh, biểu lộ cách mà Thánh vịnh tìm thấy sự viên mãn trong Tân Ước với việc ngự đến của Chúa Giêsu qua Mẹ Maria. Một số giáo dân bắt đầu đọc những lời này theo cùng một cách thức như Kinh Lạy Cha – 150 lần vừa đọc vừa đếm những hạt nhỏ giống như họ làm trong Kinh Lạy Cha. Việc lập lại lời của Sứ thần Gabriel giúp họ sống lại niềm vui của biến cố Truyền Tin và ca tụng mầu nhiệm Thiên Chúa Nhập Thể trong cung lòng Đức Mẹ.

Sau đó, các Kitô hữu liên kết lời cầu nguyện này với lời chào của bà Elizabeth khi gặp Đức Mẹ trong chuyến viếng thăm: “Bà có phúc lạ hơn mọi người nữ, (…), con lòng Bà gồm phúc lạ” (Lk 1:42). Cuối cùng, tên Chúa Giêsu được thêm vào lời cầu nguyện này vào thế kỷ thứ 13, “Bà có phúc lạ hơn mọi người nữ, và GIÊSU con lòng Bà gồm phúc lạ,” và như vậy phần đầu của Kinh Kính Mừng được hình thành. Hình thức cầu nguyện đầu tiên của Kinh Kính Mừng này được đọc 150 lần. Vào thế kỷ thứ 15, 150 kinh Kính Mừng được chia ra thành các tập hợp của 10 kinh, được bắt đầu với Kinh Lạy Cha sau đó 10 kinh Kính Mừng.

Sau này một sự phát triển thêm nữa trong truyền thống cầu nguyện tại các tu viện dẫn đến việc chiêm niệm cuộc sống của Chúa Giêsu khi đọc Kinh Kính Mừng trong chuỗi Mân Côi. Một vài tu viện bắt đầu liên kết mỗi Thánh vịnh với một khía cạnh về cuộc sống của Chúa Giêsu. Tại cuối mỗi Thánh vịnh, họ đọc một câu nối kết Thánh vịnh với cuộc sống của Chúa Giêsu hoặc của Mẹ Maria. Những câu này tạo thành một bản tóm tắt cuộc sống của Chúa Giêsu và Mẹ Maria.

Việc sùng kính nối kết 50 câu này với việc đọc 50 kinh Kính Mừng được bắt đầu vào đầu thế kỷ thứ 15. Tuy nhiên, vì 50 câu suy niệm này thường khó nhớ nếu không có sách cho nên việc sùng kính này được đơn giản hoá thành 15 câu, với mỗi câu cho 10 kinh. Vì thế, vào cuối thế kỷ thứ 15, cấu trúc căn bản của chuổi Mân Côi được hình thành như sau: Kinh Lạy Cha, sau đó 10 kinh Kính Mừng cùng với một câu chiêm niệm về cuộc sống của Chúa Giêsu và Đức Mẹ.

Vào thế kỷ 16, các tập hợp mầu nhiệm Mùa Vui, Mùa Thương và Mùa Mừng mà chúng ta biết như ngày hôm nay bắt đầu hình thành. Kinh Sáng Danh được thêm vào cuối mỗi chục Kinh Kính Mừng, và phần thứ hai của Kinh Kính Mừng cũng được hình thành: “Thánh Maria, Đức Mẹ Chúa Trời, cầu cho chúng con là kẻ có tội khi nay và trong giờ lâm tử. Amen.

Vào năm 1569, ĐTC Piô 5 đã chính thức chuẩn y chuổi Mân Côi theo hình thức như hiện nay.

ĐTC Gioan Phaolô 2, bắt đầu năm thứ 25 triều giáo hoàng bằng việc công bố “Năm Mân Côi” bắt đầu từ thánh 10 năm 2002 đến tháng 10 năm 2003. Trong dịp này ĐTC giới thiệu thêm một mầu nhiệm mới vào chuổi Mân Côi – Mầu nhiệm Sự Sáng.

Trước đây chúng ta có mầu nhiệm mùa Vui, chiêm niệm việc hạ sinh của Chúa Giêsu. Mầu nhiệm Mùa Thương chiêm niệm sự thương khó và tử nạn của Chúa. Mầu nhiệm Mùa Mừng chiêm niệm sự sống lại của Chúa. Và để bước vào cuộc sống của Chúa hoàn toàn hơn trong chuổi Mân Côi, ĐTC Gioan Phaolô 2 đề nghị Giáo hội chiêm niệm các mầu nhiệm về cuộc sống công khai của Chúa Giêsu đó là Mầu nhiệm Sự Sáng với năm điều chiêm niệm: (1) Việc rửa tội của Chúa Giêsu; (2) Tiệc cưới Cana; (3) Công bố Nước Trời; (4) Biến Hình; và (5) Thiết lập Bí Tích Thánh Thể. Bằng cách tập trung chú ý của chúng ta vào sứ vụ công khai của Chúa, các mầu nhiệm Sự Sáng tạo ra một sự nối kết mạnh mẽ giữa cuộc sống trẻ thơ trong mầu nhiệm mùa Vui và cao điểm sứ vụ Thiên sai của Người trong mầu nhiệm mùa Thương và Vinh quang Phục sinh trong mầu nhiệm Mùa Mừng.

Chúng ta thấy Chuổi Mân côi là một quyển Tân Ước vắn gọn tóm tắt cuộc đời trần thế của Chúa Giêsu: (1) Sự Vui – Việc hạ sinh của Chúa liên quan đến các chi tiết – Thiên thần truyền tin cho Đức Mẹ, đi viếng bà thánh Elizabeth, Giáng sinh, Dâng Chúa vào đền thánh, và tìm gặp Chúa trong đền thánh. (2) Sự Sáng bao gồm Rử tội Chúa Giêsu, tiệc cưới Cana, Công bố Nước Trời, Biến Hình và thiết lập Bí Tích Thánh Thể. (3) Sự Thương bao gồm Chúa, sự lo buồn của Chúa, chịu đánh đòn, đội mũ gai, vác Thánh Giá, và chết trên Thánh Giá. (4) Sự Mừng: Chúa Sống lại, lên trời, Chúa Thánh Thần hiện xuống, Đức Mẹ về trời.