PHỤNG VỤ - MỤC VỤ | Hỏi Đáp
Những nguy cơ mà Trợ Tử (Euthanasia) Mang Lại.
Câu hỏi: Thưa cha, con hiểu rằng tại Hoà Lan và nhiều quốc gia khác hợp pháp hoá trợ tử đã dẫn đến việc người dân bị đưa vào cái chết mà không được họ đồng ý. Liệu điều này có thể xảy ra tại Úc hay không nếu trợ tử được hợp pháp hoá?

Trả lời: Trong những quốc gia hợp pháp hoá trợ tử đã dẫn đến việc con người bị đặt và cái chết mà không được họ đồng ý. Hoàn cảnh này hiện nay là một thực tế tại Hoà Lan và là một sự tiến triển tự nhiên của nền hoá sự chết như thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II diễn tả. Khi mạng sống con người không được đánh giá trong chính nó, vấn đề tuổi tác hoặc tình trạng sức khoẻ hoặc khả năng tâm thần của con người, việc giết những người mà họ xét như là một gánh nặng hoặc cuộc sống được xem là “không đáng sống” là một hậu quả tự nhiên.

Thí dụ mặc dầu bộ luật 2002 tại Hoà Lan cho phép trợ tử khi sự đau đớn không thể chịu đựng được cọng với không có triển vọng khả quan, dần dần điều này được mở rộng đến việc bao gồm sự đau đớn tâm lý. Một bài viết được đăng trên tuần báo y khoa Mỹ (Journal of the American Medical Association Internal Medicine) vào tháng 8, 2015 tường trình rằng tại Hoà lan, chỉ trong một năm, đã có 6.8% những người chết vì trợ tử hoặc được gíup để tự tử với lý do không còn muốn sống nữa. 49.1% chết vì cảm thấy cô đơn. Vào năm 2002 tại Hoà Lan đã có 42 người được trợ tử vì bị bệnh mất trí nhớ và 13 người vì những căn bệnh về tâm thần. 53.7% những người xin được trợ tử thuộc lứa tuổi từ 80 trở lên, điều này có nghĩa là tuổi già giờ được xem là một hình thức đau đớn .

Mặc dầu Hoà lan đã hợp pháp hoá trợ tử vào cuối năm 2002, nhưng trước đó, có nhiều quyết định toà án đưa ra rằng các bác sĩ giết các bệnh nhân hoặc giúp họ tự tử không thể bị phạt bao lâu mà họ làm theo những hướng dẫn cụ thể. Đó là các bác sĩ phải báo cho nhà cầm quyền tất cả những trường hợp mà họ tham gia. Những trường họp này được tóm tắt trong ba tường trình chính thức của chính phủ vào những năm 1990, 1995 và 2001 được biết đến với tên Remmelink. Các tường trình cho thấy  nhiều trường hợp trợ tử đã không báo cáo, bởi vì các bác sĩ tham gia vào việc này không nhìn nhận chúng như là việc làm trợ tử.

Một số dữ kiện khác cho thấy nhiều việc trợ tử không được sự đồng ý của bệnh nhân xảy ra rất thường xuyên.

Trong trường trình năm 1999, có 1041 người, trung bình ba người một ngày, đã chết từ việc trợ tử mà không có sự đồng ý hoặc biết đến của bệnh nhân. 14% những người này hoàn toàn có khả năng nhận biết, 72% bệnh nhân chưa bao giờ có bất cứ những dấu hiệu nào nói rằng họ muốn cuộc sống của họ được chấm dứt, và trong 8% của các trường hợp, các bác sĩ thực hiện việc trợ tử mà bệnh nhân không tự nguyện mặc dầu họ tin rằng vẫn có những chọn lựa khác để chọn.

Thêm vào đó, 8100 bệnh nhân đã bị chết vì cho thuốc giảm đau quá đô, mục đích không phải là kiểm soát đau đớn nhưng để làm cho bệnh nhân chết nhanh hơn. Trong 61% của những trường hợp này, việc cố ý cho thuốc quá đô không được bệnh nhân đồng ý.

Nói chung năm 1990, các bác sĩ cố ý chấm dứt 11840 mạng sống con người bằng việc chích thuốc, chiếm tỉ lệ 9.1% số người chết trong năm đó. Đa số những người được trợ tử là không tự nguyện. 45% những trường hợp này được thực hiện tại bệnh viện, hoặc tại các gia đình bệnh nhân mà thân nhân không có sự hiểu biết rằng mạng sống của người thân yêu của họ bị chấm dứt vì sự cố ý của các bác sĩ.

Đa số các lý do để chấm dứt mạng sống mà không được sự đồng ý của bệnh nhân: không có triển vọng được khỏi bệnh; gia đình không thể chịu đựng được nữa. .v.v…

Điều đáng buồn là việc giúp người tự tử được thực hành với rất ít hoặc không có một sự cố gắng để gíup bệnh nhân qua dịch vụ chăm sóc giảm đau.

Tại Bỉ (Belgium), vào năm 2013, người ta cũng yêu cầu giúp để được tự tử vì lý do không muốn sống nữa. Cũng tại Bỉ một cặp sinh đôi 45 tuổi bị điếc cũng được giúp tự tử khi mắt của họ bị mờ dần, và một người phụ nữ bị chứng biếng ăn đã yêu cầu để được trợ tử sau khi bị lạm dụng tính dục bởi bác sĩ tâm thần của bà. Ngoài ra còn có những trường họp như bệnh tự kỷ (autism) và hội chứng nhức mỏi kinh niên (chronic fatigue syndrome) cũng xin được trợ tử.

Một bài báo được đăng trong tuần báo y khoa của Anh (New England Journal of Medicine) vào năm 2005 cũng tường thuật rằng chỉ trong khoảng thời gian 7 năm, tại Hoà Lan, đã có 22 trẻ em bị bệnh tràn dịch não hay còn gọi là bệnh não nước đã bị chính thuốc để chết mặc dầu đây là điều bất họp pháp. Thêm vào đó, có khoảng 15-20 trẻ sơ sinh khuyết tật bẩm sinh cũng bị giết mỗi năm tại Hoà Lan. Mặc dầu đây là việc giết trẻ em nhưng lại được xem như là một tự nhiên đối với tiến trình của nền văn hoá sự chết, một nền văn hoa bắt đầu khi việc trợ tử được chính thức công nhận.

Tại tiểu bang Oregon, Mỹ, nơi mà luật giúp người tự tử được hợp pháp hoá đầu tiên, tại đó có ít nhất hai trường hợp ung thư được phần đông công chúng biết đến. Đây là trường hợp hai bệnh nhân ung thư được cơ quan y tế của tiểu bang cho biết chính phủ không trả tiền cho việc xạ trị nhưng sẵn sàng trả tiền cho việc trợ tử với lý do việc giúp tự tử chi phí rẻ hơn. Rõ ràng đây là chủ nghĩa vị lợi. Liệu chúng ta có muốn điều này xảy ra tại úc hay không?

Hiện nay tỉ lệ số người chết từ việc trợ tử đang gia tăng tại những quốc gia đã hợp pháp hoá việc này. Theo thống kê tại Hoà lan, vào năm 2012, cứ một trong 20 người chết là do kết quả của trợ tử, và trẻ em 12 tuổi cũng đang yêu cầu để được trợ tử. Tại Bỉ, vào năm 2007 cứ 53 người chết thì có một người bị chết vì trợ tử, vào năm 2013 con số này gia tăng cứ 22 người thì có một người chết vì trợ tử. Tại Thuỵ sĩ, con số người chết vì trợ tử gia tăng từ 43 người vào năm 1998 lên 297 người vào năm 2009. Trong số những người xin trợ tử này có những người bị bệnh viêm khớp, bị mù, bị thương cột sống, tiểu đường và những chứng bệnh tâm thần khác.

Năm 1988, hội bác sĩ Anh (British Medical Association) đã đưa ra kết quả của một cuộc nghiên cứu về việc trợ tử tại Hoà Lan tìm thấy rằng dịch vụ chăm sóc giảm đau tại quốc gia này rất tồi. Vào giữa năm 1990, chỉ có hai chương trình chăm sóc giảm đau này trong toàn quốc và việc phục vụ của họ lại rất giới hạn khi trợ tử được chấp nhận như là cách giải quyết cho việc đau đớn, kể từ đó các chương trình chăm sóc giảm đau rất ít được khích lệ. Với qúa nhiều trường hợp không tình nguyện trợ tử xảy ra, đầu năm 1990, hội bệnh nhân Hoà Lan (lệ) một tổ chức quyền của người tàn tật đã phát những thẻ nói rằng nếu người ký tên được đưa vào bệnh viện ”sẽ không được chữa bệnh đối với bệnh nhân với ý định chấm dứt cuộc sống.”

Thật là một điều đáng buồn rằng trong suốt thế chiến thứ 2, Hoà lan là quốc gia duy nhất bị Đức chiếm đóng nhưng các bác sĩ công khai chống lại lệnh tham gia vào chương trình trợ tử của Đức. Sau này vị sĩ quan người Đức ra lệnh việc này đã bị tử hình vì tội phạm chiến tranh. Điều này đã khiến cho ông Malcom Muggeridge, một phóng viên nổi tiếng, viết trong một bài tham luận rằng: việc tàn sát nhân loại xảy ra chỉ vài thập niên “đã đổi từ tội phạm chiến tranh thành hành động của lòng thương xót.” Đau đớn trong nhiều hình thức là một phần của cuộc sống đối với mọi người, và Chúa Giêsu dạy chúng ta bằng chính sự đau đớn và cái chết của Người trên thánh giá để đau khổ có ý nghĩa và giá trị. Thế nhưng khi thiên chúa bị đẩy ra khỏi cuộc sống của con người như

đang xảy ra tại thế giới tây phương, sự chấm dứt không đau đối với sự đau đớn có vẻ như là một giải quyết duy nhất. Vì thế, nguy hiểm từ việc trợ tử là thực tế, đặc biệt trong một thế giới vô thần không quen với sự đau đớn. Trong thông điệp gởi đến cuộc họp về những vấn đề chấm dứt cuộc sống, được bảo trợ bởi hội đồng toà thánh về sự sống, hôm 16.11 vừa qua, ĐTC Phanxicô nhấn mạnh rằng trợ tử hay giúp người tự tử luôn luôn là một việc làm sai trái.

Lm FX Nguyễn Văn Tuyết