TÀI LIỆU | Tư Liệu
Thiên Chúa Dựng Nên Họ Có Nam Có Nữ, Văn Kiện mới của Thánh Bộ Giáo Dục Công Giáo về Lý Thuyết Phái tính Phần 2 (Vũ Văn An)
Thánh Bộ Giáo Dục Công Giáo (phụ trách Các Ðịnh Chế Giáo Dục) "Thiên Chúa Dựng Nên Họ Có Nam Có Nữ", Hướng Tới Con Ðường Ðối Thoại Về Vấn Ðề Lý Thuyết Phái Tính Trong Giáo Dục

Trường học

39. Tính đệ nhất đẳng của gia đình trong việc giáo dục trẻ em được bổ sung bởi vai trò phụ đới của trường học. Được củng cố bởi nguồn gốc của nó trong Tin Mừng, “Các trường Công Giáo đang lên đường trở thành một trường học cho con người nhân bản và của những con người nhân bản. ‘Con người của mỗi hữu thể nhân bản cá thể, trong các nhu cầu vật chất và tinh thần của họ, đều nằm ở trung tâm lời dạy của Chúa Kitô: đây là lý do tại sao việc cổ vũ con người nhân bản là mục tiêu của trường Công Giáo’. Sự khẳng định nhấn mạnh đến mối liên hệ sống còn với Chúa Kitô của con người này nhắc nhở chúng ta rằng chính trong con người của Người mà sự viên mãn của sự thật liên quan đến con người phải được tìm thấy. Vì lý do này, trường Công Giáo, khi tự dấn thân vào việc phát triển con người toàn diện, đã làm như vậy để vâng theo sự thúc giục của Giáo hội, trong việc ý thức rằng mọi giá trị của con người đều tìm được sự thành toàn và hiệp nhất của chúng trong Chúa Kitô. Ý thức này nói lên tính trung tâm của con người nhân bản trong dự án giáo dục của trường Công Giáo” (45).

40. Trường Công Giáo phải là một cộng đồng giáo dục, trong đó con người có thể tự phát biểu và lớn lên trong nhân tính của họ, trong một diễn trình đối thoại tương quan, tương tác theo cách xây dựng, thực thi khoan dung, hiểu các quan điểm khác và tạo tin tưởng vào một bầu khí hài hòa đích thực. Một trường học như vậy thực sự là “một cộng đồng giáo dục, một nơi các dị biệt sống hòa thuận với nhau.
Cộng đồng trường học là nơi để gặp gỡ và cổ vũ sự tham gia. Nó đối thoại với gia đình, vốn là cộng đồng đệ nhất hạng mà các học sinh theo học vốn thuộc về. Nhà trường phải tôn trọng nền văn hóa của gia đình. Nó phải lắng nghe cẩn thận các nhu cầu nó tìm thấy và những kỳ vọng hướng tới nó” (46). Theo cách này, các bé gái và bé trai được đồng hành bởi một cộng đồng dạy dỗ chúng “biết khắc phục chủ nghĩa duy cá nhân và khám phá, dưới ánh sáng đức tin, ơn gọi chuyên biệt của chúng vào một đời sống có trách nhiệm trong cộng đồng với những người khác” (47).

41. Các Kitô hữu nào đang sống ơn gọi giáo dục trong các trường không Công Giáo cũng có thể làm chứng, phục vụ và cổ vũ sự thật về con người nhân bản. Thực thế, “Việc đào tạo toàn diện con người nhân bản, vốn là mục đích của giáo dục, bao gồm việc phát triển mọi quan năng nhân bản của học sinh, cùng với việc chuẩn bị cho đời sống chuyên nghiệp, đào tạo đạo đức và ý thức xã hội, có ý thức về một nền giáo dục siêu việt và tôn giáo” (48). Nhân chứng bản thân, khi tham gia một cách chuyên nghiệp, đóng góp rất lớn vào việc đạt được các mục tiêu này.

42. Giáo dục về cảm giới đòi hỏi thứ ngôn ngữ thích đáng cũng như cân bằng. Trên hết, nó phải lưu ý rằng, trong khi trẻ em và những người trẻ chưa đến tuổi trưởng thành hoàn toàn, họ đang chuẩn bị với một quan tâm lớn để cảm nghiệm mọi khía cạnh của cuộc sống. Do đó, cần phải giúp học sinh “phát triển cảm thức phê phán trong việc đối phó các tấn công của các ý niệm và đề xuất mới, sự tràn ngập văn hóa khiêu dâm và sức nặng quá tải của các kích thích có thể làm biến dạng giới tính” (49). Trước sự oanh kích liên tục của các thông điệp mơ hồ và không rõ ràng, và kết cục chỉ tạo ra sự mất phương hướng về cảm xúc cũng như cản trở sự trưởng thành về tâm lý và tương quan, những người trẻ “nên được giúp đỡ để nhận ra và tìm kiếm các ảnh hưởng tích cực, trong khi xa lánh các điều làm tê liệt khả năng yêu thương của họ” (50).

Xã hội

43. Một viễn cảnh tổng thể về tình hình xã hội đương thời phải trở thành một phần của diễn trình giáo dục. Sự biến đổi của các mối liên hệ xã hội và liên ngã, “thường vẫy ngọn cờ tự do, nhưng, trong thực tế, nó đã đem lại một sự tàn phá về tinh thần và vật chất cho vô số con người nhân bản, đặc biệt là những người nghèo nhất và dễ bị tổn thương nhất. Điều còn hiển nhiên hơn bao giờ hết là sự suy giảm của nền văn hóa hôn nhân có liên hệ với cảnh nghèo đói gia tăng và một loạt các bệnh xã hội khác ảnh hưởng bất tương xứng tới đàn bà, trẻ em và người già. Luôn luôn họ là những người phải chịu khổ nhiều nhất trong cuộc khủng hoảng này” (51).

44. Dưới ánh sáng của tất cả những điều trên, không được để gia đình phải đối diện với các thách thức tự mình phải giáo dục giới trẻ. Giáo hội, về phần mình, tiếp tục hỗ trợ các gia đình và những người trẻ tuổi trong các cộng đồng cởi mở và chào đón. Các trường học và cộng đồng địa phương được kêu gọi, cách riêng, thực thi một sứ mệnh quan trọng ở đây, mặc dù họ không thay thế được vai trò của cha mẹ nhưng bổ sung cho nó (52). Sự khẩn cấp đáng chú ý của các thách thức mà công việc đào tạo nhân bản đang phải đối diện, nên hành động như chất kích thích hướng tới việc tái thiết liên minh giáo dục giữa gia đình, nhà trường và xã hội.

45. Điều được nhiều người thừa nhận là liên minh giáo dục trên đã tham gia vào cuộc khủng hoảng. Hiện có nhu cầu cấp thiết phải cổ vũ một liên minh mới chân chính chứ không đơn giản chỉ ở bình diện bàn giấy, một dự án chung có thể cung cấp một “nền giáo dục giới tính tích cực và khôn ngoan” (53), có thể hòa hợp trách nhiệm chính của phụ huynh với công việc của các thầy cô. Chúng ta phải tạo điều kiện thích hợp cho cuộc gặp gỡ xây dựng giữa các tác nhân khác nhau có liên hệ, tạo nên một bầu khí minh bạch trong đó tất cả các bên liên tục thông báo cho người khác về những gì họ đang làm, tạo điều kiện cho sự tham gia tối đa và do đó tránh được những căng thẳng không cần thiết thường nảy sinh vì các hiểu lầm gây ra bởi sự thiếu rõ ràng, thiếu thông tin hoặc thiếu năng lực.

46. Đối với toàn bộ liên minh giáo dục này, hoạt động sư phạm nên được thông tri theo nguyên tắc phụ đới: “Tất cả những người tham gia khác trong diễn trình giáo dục chỉ có thể thực thi trách nhiệm của họ nhân danh các phụ huynh, với sự đồng ý của họ và, ở một mức độ nào đó, với sự cho phép của họ” (54). Nếu họ thành công trong việc làm việc với nhau, gia đình, trường học và xã hội rộng lớn hơn có thể tạo ra các chương trình giáo dục về cảm giới và giới tính biết tôn trọng giai đoạn trưởng thành của riêng mỗi người liên quan tới các lãnh vực này và đồng thời cổ vũ sự tôn trọng đối với cơ thể của người khác. Các chương trình này cũng sẽ lưu ý đến tính đặc thù sinh lý và tâm lý của người trẻ, cũng như giai đoạn tăng trưởng và trưởng thành nhận thức thần kinh (neurocognitive) của mỗi người, và do đó có thể đồng hành với họ trong việc họ phát triển một cách lành mạnh và có trách nhiệm.

Đào tạo các nhà đào tạo
47. Tất cả những người làm việc trong việc đào tạo nhân bản đều được kêu gọi thực thi trách nhiệm lớn lao trong việc thực hiện hữu hiệu các dự án sư phạm trong đó họ có can dự. Nếu họ là người trưởng thành và cân bằng bản thân, được chuẩn bị tốt, điều này có thể có ảnh hưởng tích cực mạnh mẽ đối với các học sinh (55). Do đó, điều quan trọng là việc đào tạo chính họ không chỉ bao gồm bộ môn chuyên nghiệp mà còn được chuẩn bị cả về văn hóa và tinh thần nữa. Việc giáo dục con người nhân bản, nhất là về phương diện phát triển, đòi hỏi sự lưu tâm lớn lao và đào tạo liên tục. Chỉ đơn giản lặp lại các điểm tiêu chuẩn của một môn học là điều không đủ. Người ta chờ mong các nhà giáo dục hôm nay có khả năng “đồng hành với học sinh của mình hướng tới những mục tiêu cao cả và đầy thách thức, trân trọng các kỳ vọng cao đối với họ, làm cho các học sinh can dự và nối kết với nhau và với thế giới” (56).

48. Các nhà quản lý trường học, nhân viên giảng dạy và các nhân viên khác đều có chung trách nhiệm vừa bảo đảm cung cấp một việc phục vụ có phẩm chất cao nhất quán với các nguyên tắc Kitô giáo vốn nằm ở trung tâm dự án giáo dục của họ, vừa giải thích các thách thức của thời đại trong khi hàng ngày làm chứng cho sự hiểu biết, tính khách quan và đức khôn ngoan của họ (57). Một sự kiện thường được chấp nhận là “con người hiện đại sẵn lòng lắng nghe các nhân chứng hơn các thầy dạy, và nếu họ có lắng nghe các thầy dạy, thì là vì các vị này là các nhân chứng” (58). Do đó, thẩm quyền của một nhà giáo dục được xây dựng trên sự kết hợp cụ thể “của một cuộc đào tạo tổng quát, đặt cơ sở trên khái niệm xây dựng có tính tích cực và chuyên nghiệp về sự sống và nỗ lực không ngừng để thể hiện nó. Một việc đào tạo như vậy vượt quá việc đào tạo thuần chuyên môn cần thiết để giải quyết các khía cạnh thân thiết hơn của nhân cách, bao gồm các khía cạnh tôn giáo và tâm linh” (59).

49. Khi việc ‘đào tạo các nhà đào tạo’ được tiến hành trên cơ sở các nguyên tắc Kitô giáo, nó có mục tiêu không những là việc đào tạo các thầy cô cá thể nhưng cả việc xây dựng và củng cố toàn bộ cộng đồng giáo dục qua việc trao đổi hữu hiệu giữa mọi người có liên hệ, một cuộc trao đổi có cả chiều kích mô phạm lẫn cảm xúc. Do đó, các mối liên hệ năng động phát triển giữa các nhà giáo dục và việc phát triển chuyên nghiệp được làm giàu bằng sự phát triển bản thân toàn diện, ngõ hầu công việc giảng dạy được thực hiện để phục vụ việc nhân bản hóa. Bởi đó, các nhà giáo dục Công Giáo cần được chuẩn bị đầy đủ về các phức tạp của nhiều vấn đề khác nhau mà lý thuyết giới tính từng nêu ra và được thông tri đầy đủ về cả pháp luật hiện hành lẫn được đề nghị trong khu vực tài phán liên hệ của họ, được sự hỗ trợ của những người có trình độ trong lĩnh vực này, theo cách cân bằng và có định hướng đối thoại. Ngoài ra, các viện và trung tâm nghiên cứu cấp đại học được kêu gọi cung cấp sự đóng góp chuyên biệt của họ ở đây, để việc học hỏi thoả đáng, cập nhật và kéo dài suốt đời về đề tài này luôn có sẵn đó cho các nhà giáo dục.

50. Về trách vụ chuyên biệt của việc giáo dục về tình yêu con người, thực hiện “với sự trợ giúp của những tiến bộ mới nhất trong tâm lý học và nghệ thuật và khoa học giảng dạy” (60), các nhà đào tạo cần “có một khóa đào tạo tâm lý sư phạm thích hợp và nghiêm túc, cho phép nắm bắt các tình huống cụ thể cần được quan tâm đặc biệt” (61). Kết quả là, “một viễn kiến rõ ràng về tình hình là điều cần thiết vì phương pháp được áp dụng không chỉ dần dần tạo điều kiện cho sự thành công của việc giáo dục tinh tế này, nhưng cũng tạo điều kiện cho việc hợp tác giữa những người khác nhau có trách nhiệm” (62).

51. Quyền tự chủ và tự do giảng dạy ngày nay được công nhận trong nhiều hệ thống pháp luật. Trong bối cảnh như vậy, các trường học có thể hợp tác với các định chế giáo dục Công Giáo cao hơn để phát triển cái hiểu sâu sắc hơn về các khía cạnh khác nhau của giáo dục giới tính, với mục đích xa hơn là tạo ra tài liệu giảng dạy mới, các công trình tham khảo sư phạm và các thủ bản giảng dạy dựa trên “viễn kiến Kitô Giáo về đàn ông và đàn bà” (63).

Vì mục đích này, các nhà sư phạm, những người làm việc trong lãnh vực huấn luyện các giáo viên và các chuyên gia về văn học dành cho trẻ em và thiếu niên đều có thể đóng góp vào việc tạo ra một bộ dụng cụ đầy sáng kiến và sáng tạo, một bộ dụng cụ, đối diện với các viễn kiến khác chỉ có tính phiến diện hoặc bị bóp méo, có thể cung cấp một nền giáo dục vững chắc và tích hợp về con người nhân bản từ tuổi thơ trở đi. Trước bối cảnh đổi mới của liên minh giáo dục, sự hợp tác ở bình diện địa phương, quốc gia và quốc tế giữa mọi bên liên hệ không nên tự giới hạn vào việc chia sẻ các ý tưởng hoặc trao đổi hữu ích các thực hành tốt nhất mà nên trở thành sẵn có đó như một phương thế chủ yếu để thường trực đào tạo chính các nhà giáo dục.

KẾT LUẬN

52. Tóm lại, con đường đối thoại, tức con đường bao hàm lắng nghe, lý luận và đề xuất, dường như là một cách hiệu quả nhất hướng tới việc tích cực biến đổi các mối lo âu và hiểu lầm, cũng như là một nguồn lực mà ngay trong chính nó đã có thể giúp khai triển một mạng lưới liên hệ vừa cởi mở hơn vừa nhân bản hơn. Ngược lại, mặc dù các cách tiếp cận do ý thức hệ thúc đẩy đối với các vấn đề tế nhị xoay quanh phái tính tuyên bố chúng tôn trọng tính đa dạng, nhưng thực sự chúng có nguy cơ coi các dị biệt như vậy như các thực tại tĩnh và kết cục khiến chúng bị cô lập và mất nối kết với nhau.

53. Đề xuất giáo dục Kitô giáo phát huy cuộc đối thoại sâu sắc hơn, chân thực với mục tiêu của nó là “cổ vũ việc thể hiện người đàn ông và đàn bà qua việc phát triển trọn hữu thể của họ, các tinh thần nhập thể và các hồng phúc tự nhiên và ơn thánh nhờ đó họ được Thiên Chúa làm cho phong phú” (64) Điều này đòi hỏi một cố gắng chân thành để xích lại gần người khác hơn và nó có thể là liều thuốc giải độc tự nhiên đối với nền văn hóa vứt bỏ và cô lập. Theo cách này, chúng ta quả quyết lại rằng “phẩm giá nguyên thủy của mỗi người đàn ông và đàn bà là bất khả nhượng và không thể nắm bắt được bởi bất cứ quyền lực hay ý thức hệ nào” (65).

54. Các nhà giáo dục Công Giáo được kêu gọi vượt quá mọi chủ nghĩa duy giản lược ý thức hệ hoặc chủ nghĩa duy tương đối đồng nhất hóa (homologizing relativism) bằng cách mãi trung thành với bản sắc dựa trên phúc âm của chính họ, để biến đổi cách tích cực các thách đố của thời đại họ thành các cơ hội bằng cách đi theo con đường lắng nghe, lý luận và đề xuất viễn kiến Kitô giáo, trong khi làm chứng bằng chính sự hiện diện của họ, và bằng tính nhất quán của lời họ nói và hành động (66). Các nhà đào tạo có một sứ mệnh giáo dục hấp dẫn “dạy cho họ sự nhạy cảm đối với các cách phát biểu khác nhau của tình yêu, quan tâm và chăm sóc lẫn nhau, tôn trọng đầy yêu thương và thông đạt có ý nghĩa sâu sắc. Tất cả những điều này chuẩn bị để họ hiến thân toàn diện và quảng đại, một sự hiến thân sẽ được phát biểu, theo một cam kết công khai, qua việc hiến dâng cơ thể họ. Do đó, sự kết hợp giới tính trong hôn nhân sẽ xuất hiện như dấu chỉ một cam kết bao gồm mọi người, được làm cho phong phú nhờ tất cả những gì có trước nó” (67).

55. Nền văn hóa đối thoại không hề mâu thuẫn với các nguyện vọng chính đáng của các trường Công Giáo trong việc duy trì viễn kiến của chính họ về giới tính con người, phù hợp với quyền của các gia đình được tự do đặt căn bản cho nền giáo dục của con cái họ trên nền nhân học toàn diện, có khả năng hài hòa bản sắc thể lý, tâm lý và tâm linh của con người. Thực thế, một nhà nước dân chủ không thể giản lược trọn nền giáo dục vào việc cung cấp một trường phái tư tưởng, càng như thế hơn nữa, khi liên quan đến chủ đề cực kỳ tế nhị này, một chủ đề, xét theo một mặt, có liên quan đến các điều căn bản của bản chất con người, và mặt khác, có liên quan đến quyền tự nhiên của cha mẹ trong việc tự do chọn lựa bất cứ mô hình giáo dục nào phù hợp với phẩm giá của con người nhân bản. Do đó, mọi học viện giáo dục nên cung cấp cơ cấu tổ chức và các chương trình giáo khoa có thể bảo đảm các quyền của phụ huynh này được tôn trọng đầy đủ và cụ thể. Nếu đúng như thế, phương pháp sư phạm Kitô giáo hiện có có thể cung cấp một đáp ứng vững chắc cho các nền nhân học vốn có đặc điểm phân mảnh và tạm thời.

56. Các chương trình liên quan đến việc đào tạo cảm giới và giới tính do các trung tâm giáo dục Công Giáo đề nghị phải tính đến nhóm tuổi của các học sinh sinh viên đang được giảng dạy và đối xử với mỗi người một cách tôn trọng tối đa. Điều này có thể đạt được qua một cách đồng hành kín đáo và bảo mật, có khả năng với tới những người đang trải qua những tình huống phức tạp và đau lòng. Do đó, mọi trường học nên bảo đảm phải có một môi trường đáng tin cậy, thanh thản và cởi mở, đặc biệt ở những nơi có những trường hợp đòi hỏi thời gian và sự biện phân cẩn thận.

Điều chủ yếu là phải tạo ra các điều kiện thích đáng để cung cấp một đôi tai kiên nhẫn và hiểu biết không có bất cứ sự kỳ thị bất công nào.

57. Thánh Bộ Giáo dục Công Giáo ý thức rõ nỗ lực hàng ngày và sự quan tâm quảng đại của những người làm việc trong các trường học và hàng loạt nỗ lực sư phạm chính thức và không chính thức. Thánh Bộ muốn khuyến khích họ theo đuổi công trình đào tạo người trẻ của họ, đặc biệt những người trong số họ đang bị ảnh hưởng bởi bất cứ hình thức nghèo đói nào, và những người cần tình yêu được các nhà giáo dục của họ biểu lộ với họ, để, như lời Thánh Gioan Bosco từng nói, người trẻ không những được yêu thương, nhưng biết rằng họ được yêu thương. Thánh Bộ này cũng muốn bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất đến tất cả các Kitô hữu đang giảng dạy trong các trường Công Giáo hoặc các loại trường khác, và, như lời của Đức Giáo Hoàng Phanxicô, khuyến khích họ “kích thích nơi các học sinh sự cởi mở đối với người khác coi họ như một khuôn mặt, như một con người, như một anh chị em để biết và tôn trọng, với đủ lịch sử của họ, các công phúc và khuyết điểm, các phong phú và giới hạn của họ. Thách thức là hợp tác để đào tạo những người trẻ biết cởi mở và quan tâm đến thực tại vây quanh họ, có khả năng quan tâm và dịu dàng” (68).

Thành phố Vatican, ngày 2 tháng 2 năm 2019, Lễ Dâng Chúa vào Đền Thờ.

Đức Hồng Y Giuseppe Versaldi
Tổng trưởng

Đức Tổng Giám Mục Angelo Vincenzo Zani
Thư ký

Chú Thích

1 Đức Bênêđíctô XVI, Diễn văn với Các Thành Viên Ngoại Giao Đoàn, 10 tháng 1, 2011.
2 Đức Phanxicô, Tông huấn hậu Thượng Hội Đồng Amoris Laetitia, 19 tháng 3, 2016, 56.
3 Xem Đức Gioan Phaolô II, Tông huấn hậu Thượng Hội Đồng Familiaris Consortio, 22 tháng 11, 1981, 6; Xem Đức Gioan Phaolô II, Thư Gửi Các Gia Đình Gratissimam Sane, 2 tháng 2, 1994,
4 Công Đồng Vatican II, Tuyên Ngôn về Giáo Dục Công Giáo, Gravissimum Educationis, 28 tháng 10, 1965, 1.
5 Thánh Bộ Giáo Dục Công Giáo, Hướng Dẫn Giáo Dục Về Tình Yêu Nhân Bản, Các Nét Phác Thảo về Giáo Dục Giới Tính, 1 tháng 11, 1983.
6 Thánh Bộ Giáo Lý Đức Tin, Nhân Vị, Tuyên Bố về Một Số Vấn Đề Liên Quan đến Đạo Đức Giới Tính, 29 tháng 12, 1975, 1.
7 Hướng Dẫn Giáo Dục Về Tình Yêu Nhân Bản, Các Nét Phác Thảo về Giáo Dục Giới Tính, 5.
8 Đã dẫn, 35.
9 Xem Đã dẫn, 21-47, trong đó, viễn kiến Kitô Giáo về giới tính được trình bầy.
10 Công Đồng Vatican II, Hiến chế Mục vụ về Giáo Hội trong Thế giới Ngày nay, Gaudium et Spes, 7 tháng 12, 1965, 11.
11 Amoris Laetitia, 56.
12 Đã dẫn.
13 Xem Đức Phanxicô, Diễn văn với các Tham dự viên Kỳ họp Toàn thể các Thành viên của Giáo Hoàng Hàn Lâm viện Sự sống, 5 tháng 10, 2017.
14 Thánh Bộ Giáo Lý Đức Tin, Thư Gửi Các Giám Mục của Giáo Hội Công Giáo về Việc Hợp tác của các Người Đàn ông và Đàn bà trong Giáo Hội và trong thế giới, 31 tháng 5, 2004, 13.
15 Đức Gioan Phaolô II, Thư Gửi Phụ nữ, 29 tháng 6, 1995, 9.
16 Thánh Bộ Giáo Lý Đức Tin, Thư Gửi Các Giám Mục, 13.
17 Đức Gioan Phaolô II, Thư Gửi Phụ nữ, 9.
18 Đức Phanxicô, Diễn văn với các Tham dự viên Kỳ họp Toàn thể các Thành viên của Giáo Hoàng Hàn Lâm viện Sự sống, 5 tháng 10, 2017, 3.
19 Amoris Laetitia, 34.
20 Gaudium et Spes, 14.
21 Đã dẫn.
22 K. Wojtyła, Love and Responsibility, London 1981, tr.56-57.
23 Xem Đức Gioan Phaolô II, Thông điệp Veritatis Splendor, 6 tháng 8, 1993, 48.
24 Xem Thánh Bộ Giáo Lý Đức Tin, Huấn thị về Việc Tôn trọng Sự sống Con người trong Ngưồn gốc của Nó và Phẩm giá của việc Sonh sản, Donum Vitae, 22 tháng 2, 1987, 4.
25 Đức Bênêđíctô XVI, Diễn văn với các Tham dự viên Hội nghị chuyên đề lần Thứ sáu của các Giáo sư Đại học, Rome, 7 tháng 6, 2008.
26 Đức Bênêđíctô XVI, Diễn văn tại Tòa Nhà Reichstag, Berlin, 22 tháng 9, 2011.
27 Đức Phanxicô, Thông điệp về việc Chăm sóc Căn Nhà chung của Chúng ta, Laudato Si’, 24 tháng 5, 2015, 154-155.
28 Đức Gioan Phaolô II, Yết kiến chung, 8 tháng 4, 1981 trong Insegnamenti, IV/1 (1981), tr. 904.
29 Veritatis Splendor, 50.
30 Xem đã dẫn.
31. “Đàn ông và đàn bà tạo thành hai cách thể hiện, về phía con người tạo vật, một sự tham gia kiên quyết vào Hữu thể Thiên Chúa: họ được tạo dựng giống ‘hình ảnh và họa ảnh của Thiên Chúa’ và họ hoàn toàn chu toàn ơn gọi đó không những như những con người đơn lẻ mà còn như những cặp vợ chồng, vốn là những cộng đồng tình yêu. Hướng đến sự hợp nhất và sinh nở, người đàn ông và đàn bà kết hôn tham gia vào tình yêu sáng tạo của Thiên Chúa, sống trong sự hiệp thông với Người qua người khác” Hướng Dẫn Giáo Dục Về Tình Yêu Nhân Bản, Các Nét Phác Thảo về Giáo Dục Giới Tính; Cũng nên xem Thánh Bộ Giáo Dục Công Giáo, Giáo dục Đối thoại Liên văn hóa trong Các Trường Công Giáo, 28 tháng 10, 2013, 35-36.
32 Amoris Laetitia, 286.
33 Đức Bênêđíctô XVI, Diễn văn với Kỳ họp Toàn thể của Hội Đồng Giám Mục Ý, 27 tháng 5, 2010.
34 Đức Bênêđíctô XVI, Diễn văn với Giáo Triều Rôma, 21 tháng 12, 2012.
35 Amoris Laetitia, 151.
36 Laudato Si’, 155.
37 Sách Giáo lý của Giáo Hội Công Giáo, 1643
38 Đức Phanxicô, Diễn văn với các Tham dự viên Hội thoại Quốc tế về Tính Bổ túc giữa Đàn ông và Đàn bà do Thánh Bộ Giáo Lý Đức Tin bảo trợ, 17 tháng 11, 2014, 3.
39 Bộ Giáo luật, điều 1136; Xem Bộ Giáo luật Các Giáo Hội Đông Phương, điều 627.
40 Gravissimum Educationis, 3.
41 Amoris Laetitia, 280.
42 Familiaris Consortio, 36.
43 Đức Phanxicô, Diễn văn với các Thành viên Đại diện Văn Phòng Trẻ em Công Giáo Quốc tế, 11 tháng 4, 2014.
44 Familiaris Consortio, 37.
45 Thánh Bộ Giáo Dục Công Giáo, Trường Công Giáo trên Ngưỡng cửa Ngàn năm Thứ ba, 28 tháng 12, 1997, 9.
46 Giáo dục Đối thoại Liên văn hóa trong Các Trường Công Giáo, 58.
47 Thánh Bộ Giáo Dục Công Giáo, Trường Công Giáo, 19 tháng 3, 1977, 45.
48 Thánh Bộ Giáo Dục Công Giáo, Người Giáo dân Công Giáo trong Các Trường học: Các Chúng nhân Đức tin, 15 tháng 10, 1982, 17.
49 Amoris Laetitia, 281.
50 Đã dẫn.
51 Đức Phanxicô, Diễn văn với các Tham dự viên Hội thoại Quốc tế về Tính Bổ túc giữa Đàn ông và Đàn bà do Thánh Bộ Giáo Lý Đức Tin bảo trợ, 17 tháng 11, 2014, 2.
52 Xem Amoris Laetitia, 84.
53 Gravissimum Educationis, 1.
54 Đức Gioan Phaolô II, Thư gửi Các Gia đình Gratissimam Sane, 2 tháng 2, 1994, 16; xem Hội Đồng Giáo Hoàng về Gia Đình, Giới Tính Con Người: Sự Thật và Ý Nghĩa. Các Hướng Dẫn Giáo Dục trong Gia Đình, 8 tháng 12, 1995, 23.
55 Xem Hướng Dẫn Giáo Dục Về Tình Yêu Nhân Bản, Các Nét Phác Thảo về Giáo Dục Giới Tính, 79.
56 Thánh Bộ Giáo Dục Công Giáo, Giáo dục Ngày nay và Ngày mai. Một Đam mê Đổi mới, Vatican City, 2014, Chương II, 7.
57 Xem Thánh Bộ Giáo Dục Công Giáo, Cùng nhau Giáo dục trong Trường Công Giáo. Một Sứ mệnh chung của các Người Thánh hiến và Tín hữu Giáo dân, 8 tháng 9, 2007, 34-37.
58 Đức Phaolô VI, Tông huấn Evangelii Nuntiandi, 8 tháng 12, 1975, 41.
59 Hướng Dẫn Giáo Dục Về Tình Yêu Nhân Bản, Các Nét Phác Thảo về Giáo Dục Giới Tính, 80.
60 Gravissimum Educationis, 1.
61 Hướng Dẫn Giáo Dục Về Tình Yêu Nhân Bản, Các Nét Phác Thảo về Giáo Dục Giới Tính, 81.
62 Đã dẫn, 83.
63 Đã dẫn, 22.
64 Hướng Dẫn Giáo Dục Về Tình Yêu Nhân Bản, Các Nét Phác Thảo về Giáo Dục Giới Tính,, 21.
65 Đức Phanxicô, Diễn văn với Đại diện Viện ‘Dignitatis Humanae’, 7 tháng 12, 2013.
66 Xem Giáo dục Đối thoại Liên văn hóa trong Các Trường Công Giáo, kết luận.
67 Amoris Laetitia, 283.
68 Đức Phanxicô, Diễn văn với Hiệp hội Giáo chức Các Trường Tiểu học Ý, 5 tháng 1, 2018.